Bài viết Làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa thuộc chủ đề về Địa Điểm ở Đâu thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng GiaiDieuXanh tìm hiểu Làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “Làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa”

Đánh giá về Làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa


Xem nhanh
Gìn giữ nghề mây tre đan Ngọc Động | Làng nghề Việt (VOVTV)
Cách Hà Nội 50 cây số, Ngọc Động là làng nghề mây tre đan truyền thống có lịch sử hàng trăm năm tuổi vốn hưng thịnh một thời. Đây từng là nơi có sản phẩm xuất khẩu đi nhiều thị trường khó tính trên thế giới.
-----------------------------------------------------------------------------
Kênh Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam đem đến cho các bạn tin tức phong phú gắn liền với cuộc sống hàng ngày cùng các chương trình văn hóa giải trí đa dạng, hấp dẫn.
►Đăng ký để xem thông tin nhanh nhất tại: https://sum.vn/GRDYG
-----------------------------------------------------------------------------
►Liên hệ với chúng tôi tại: Website: http://truyenhinhvov.vn
Facebook: https://www.facebook.com/truyenhinhvov/
Gmail: [email protected]
-----------------------------------------------------------------------------
►Video có thể chứa tài liệu có bản quyền dựa trên luật sử dụng hợp pháp của Fair Play (http: //www.youtube.com/yt/copyright / ...) Bất kỳ vi phạm chính sách, nguyên tắc về cộng đồng, luật bản quyền, vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ: [email protected]
-----------------------------------------------------------------------------
► Subscribe to watch more for videos: https://sum.vn/GRDYG Videos may contain copyrighted material that is based on Fair Use fair use laws (http://www.youtube.com/yt/copyright/...) Any violation of policy, community guidelines, copyright laws, please contact us directly by email [email protected], [email protected] Note: Some images are for illustrative purpose only #truyenhinhvov #vovtv #truyenhinhdulich #vov #tintuc #thoisu #tintucvanhoa #vanhoadulich #vanhoadulichtv

Trong phát triển làng nghề thủ công truyền thống và ngành nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam, lĩnh vực sản xuất mây tre đan chiếm một vị trí quan trọng. Trong các làng nghề mây tre đan của Hà Nội Hiện tại, tiêu biểu nhất là làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ. Làng nằm dọc theo trục quốc lộ 6A nối liền Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc, cách huyện lỵ Chương Mỹ 5km, cách trung tâm Hà Nội 27 km theo hướng Tây Nam.

Làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa

           Trong phát triển làng nghề thủ công truyền thống và ngành nghề thủ công mỹ nghệ Việt Nam, lĩnh vực sản xuất mây tre đan chiếm một vị trí quan trọng. Trong các làng nghề mây tre đan của Hà Nội Hiện tại, tiêu biểu nhất là làng nghề mây tre đan Phú Vinh, xã Phú Nghĩa, huyện Chương Mỹ. Làng nằm  dọc theo trục quốc lộ 6A nối liền Hà Nội với các tỉnh miền núi phía Bắc, cách huyện lỵ Chương Mỹ 5km, cách trung tâm Hà Nội 27 km theo hướng Tây Nam.

          Làng Phú Vinh được coi là “xứ Mây” nổi tiếng về nghề đan mây tre với lịch sử phát triển nghề lâu đời. Ông tổ thật sự của nghề mây tre đan ở Phú Vinh là ai không rõ. Các cụ cao niên kể lại rằng, cách đây chừng 400 năm, Phú Hoa Trang (nay là Phú Vinh) có một địa danh là bãi Cò Đậu do ở đây có rất thường xuyên cò, sau gọi chệch là Gò Đậu. Lông cò thường rụng trắng một vùng gò, có người thấy thích nhặt về tết thành mũ, nón rất xin phéph xắn. Ban đầu họ dùng thấy đẹp, bền liền làm thành quà tặng thân nhân, bạn bè, dần dần được yêu thích và nhiều người đến tìm mua. Lâu dần, lông cò có hạn, người dân tìm thêm cỏ lác, cỏ lau mọc sẵn ngoài đồng và lên rừng tìm các thứ vật liệu mềm dẻo như tre, mây, giang… để sản xuất thành các đồ gia dụng như rổ, rá, rế, làn… Qua thời gian, thường xuyên vật liệu mới được bổ sung, các mẫu mã danh mục được cải tiến, kỹ thuật đan mây tre của người làng được nâng cao để danh mục ngày càng tinh xảo và có giá trị kinh tế hơn. Nghề mây tre đan từ đó đã lan rộng sang các làng xã khác trong vùng rồi vươn ra hơn 20 tỉnh thành trong cả nước.

           Mỗi danh mục mây tre đan là một tác phẩm nghệ thuật, đòi hỏi kỹ thuật, mỹ thuật tinh xảo, công phu của những đôi bàn tay tài hoa, khéo léo. Muốn có một tác phẩm như ý, trước tiên người thợ làng Phú Vinh phải hiểu rõ thứ nguyên liệu mà mình định làm. Ví dụ như cây tre, nứa, vầu, trúc… và nhiều loại tre bương khác là loại cây thuộc họ lúa. Cây tre là loại cây mọc thẳng, có độ cứng cao, khô thì giòn, đặc biệt tre có chứa chất đường nên dễ bị mọt ăn nên khi sử dụng vào việc đan phải xử lý chống mọt.

Để sản xuất danh mục phải trải qua nhiều bước, từ khâu chọn mua, xử lý nguyên liệu, đến chế tác sản phẩm. Nguyên liệu mua về được phơi tái. Sau đó cho vào bể ngâm hoá chất khoảng 10 ngày để chống mối mọt. Sau đó vớt tre ra để nghiến mấu, cạo vỏ, dùng giấy giáp đánh bóng và phơi tre khô.

Công đoạn tiếp theo là đưa tre vào lò, sử dụng rơm, rạ hoặc lá tre để hun lấy mầu, danh mục có mầu nâu tây hay nâu đen, là do yêu cầu của khách hàng. Sau khi hun lấy mầu, đưa tre ra khỏi lò để nguội và đưa lên uốn thẳng. Bước vào công đoạn đóng đồ, những người thợ cả chọn nguyên vật liệu để cắt ra các mặt hàng sao cho phù hợp những danh mục được ra đời. Màu sắc của sản phẩm có thường xuyên loại, có khả năng là từ màu nguyên thuỷ của mây hun hay được hỗ trợ qua cách pha chế sơn PU.

Mây là lâm sản được sử dụng làm nguyên liệu cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, đồ dùng trong gia đình (nội thất) như bàn, ghế hay giỏ đựng… Ruột mây chứa thường xuyên nước hơn vỏ ngoài, khi mây khô một cách tự nhiên có màu trắng ngà dẻo và dai. Độ bền của mây nếu không bị ẩm có thể từ 100 năm trở lên. Cây mây lớn rất chậm, mỗi năm nó chỉ dài thêm ra được 1 mét, khi dài tới 5 mét thì phải thu hoạch. Cây mây non hoặc già quá chất lượng đều đặn kém.

Kỹ thuật chế biến mây bao gồm hai công đoạn: phơi sấy và chẻ mây.

Khi sấy, thường xuyên khói quá hay ít khói quá mây cũng bị đỏ. Khi phơi, gặp mưa thì sợi mây mất vẻ đẹp, mà nắng thì sợi mây mất vẻ tươi. Sợi mây chưa khô tới thì nước da bị úa, mà khô kiệt quá thì nước da mất vẻ óng mềm. Vì vậy, phơi sấy mây đòi hỏi phải đúng kỹ thuật. Người làm các công việc này không thể sao nhãng mà phải liên tục săn sóc, theo dõi như người chăn tằm vậy.

Lẩy mấu là công đoạn đầu tiên của chế biến mây. Cây mây dù dài hay ngắn cũng chỉ cắt mỗi đoạn 3m, nắn cho đoạn mây thẳng rồi mới lẩy mấu. Chẻ mây là công việc công phu, đòi hỏi tay nghề khá cao. Cây mây thường có các đốt không đều đặn nhéu, bởi thế, khi chẻ cần chú ý điều khiển thật khéo sao cho các phần to và nhỏ phải đều đặn nhau.bắt buộc chủ yếu của việc chẻ mây là các sợi mỗi loại phải thật đều đặn. Loại sợi to để đan cạp các danh mục thường. Loại sợi nhỏ sử dụng để làm những loại hàng quý, hay để tạo các loại hoa cầu kỳ… Kỹ thuật chẻ lẻ khi làm nan sợi tre, mây của ta chính là một sáng tạo quý báu. Tùy thanh tre, cây mây to, nhỏ mà quyết liệt chẻ chẵn hay chẻ lẻ. Để tạo một cỡ sợi mây, nếu chẻ cây mây nhỏ làm tư, làm sáu thì chẻ cây to hơn làm bảy hoặc chín sợi.

Các nan sau khi chẻ được đem chuốt để có những sợi mây mượt mà, phẳng bóng, sau đó được phơi ngoài nắng cho thật khô, để nước trong sợi mây thoát hết ra ngoài. Để cho sản phẩm có độ phong phú về màu sắc, sau khi sấy các sợi mây sẽ được nhúng vào các chậu lá cây sòi băm nhỏ đã được nấu sôi. Đây là phương pháp tạo màu hoàn toàn một cách tự nhiên, không hóa chất giúp cho sản phẩm mây tre đan của Phú Vinh không gây ra hại cho thể trạng người sử dụng và có độ bền màu cao tới 30-40 năm.

Chất lượng và mỹ thuật sợi mây là một trong hai yếu tố quyết liệt giá trị của sản phẩm mây đan. Người Phú Vinh vốn có tay nghề rất cao. Họ hiểu sâu sắc cây mây, thứ vật tư quan trọng nhất của nghề mây, thuộc nết thuộc tính từng cây, từng sợi mây. sản phẩm mây được làm ra ở đây đã đạt đến đỉnh cao nhất trong nghệ thuật đan mây hiện nay của Việt Nam. Thành công này trước hết thuộc về công lao các nghệ nhân.

Ngày nay, các khâu cắt tiện, pha chẻ và chuốt nan tre, nứa, giang, song, mây, guột… đã từng bước được cơ giới hoá, nhưng mọi danh mục mây tre đan cao cấp đều đặn phải thao tác thủ công, nên nghề đan cũng có khuôn mực của nó, ấy là phương pháp và kỹ thuật đan, cài. Dù là thợ hay nghệ nhân, không ai có thể vượt ra ngoài khuôn mực ấy. Chẳng hạn, khi đan những loại dần, sàng, thúng, nia, lồng bàn…, đã đan lóng mốt là chỉ được bắt nan lóng mốt, nếu đan lóng đôi chỉ được bắt đều đặn nan lóng đôi. Đan sai lóng là lỗi ngay. Trong nghề đan mây cũng thế, khi đan chân dung đã bắt năm thì phải đè năm, bắt sáu hoặc bốn đều đặn bị lỗi.

danh mục mây tre đan có rất thường xuyên loại nhưng được phân thành 4 nhóm cơ bản: Hàng đĩa (nan mỏng, không có cạp, đan lát dễ dàng, hàng không chắc chắn); Hàng rô (nan mỏng, có cạp, đan lát thường xuyên lần tạo lồ nhỏ, hàng tương đối chắc chắn; Hàng tê (nan dày phải vót, đan lát dễ dàng, hàng cứng cáp nhưng không thoáng); Hàng lô (nan dày, đan lát có cốt (khuôn hàng), hàng cứng cáp chắc chắn).

Trong các nghề thủ công, nghề mây, tre hiện đang bảo tồn được truyền thống khá tốt. Nét đặc trưng truyền thống trong sản phẩm mây tre là hình dáng đơn giản, mộc mạc nhưng kỹ thuật đan rất tinh xảo. Không thể phủ nhận, nghề mây tre đan đã giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động nông thôn, mang lại nguồn mức thu nhập ổn định cho người lao động. hiện nay, sản phấm mây, tre, giang đan của Phú Vinh đã chen chân vào được những thị trường khó tính như: Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Đức, Tây Ban nhé … Mây tre đan cũng đã trở thành một hàng hoá có trong danh mục xuất khẩu sang thị trường các nước. Thị trường xuất khẩu mây tre đan ngày càng mở rộng và tổng giá trị kim ngạch thu được ngày càng thường xuyên, được xếp vào nhóm các hàng hoá xuất khẩu quan trọng của nước ta hiện nay. Nhưng để mây tre đan trở thành hàng hoá thương mại, các làng nghề cần có nhà tổ chức sản xuất, các công ty xuất khâu có quy mô lớn, trọng thẩm mỹ, biết khám phá thị hiếu, thị trường.

Phương thức sản xuất của làng nghề song song tồn tại hai cách: Hoặc là lấy mẫu ở các cơ sở thu gom, rồi tự mua nguyên liệu, tiến hành chế tạo, gia công danh mục, sau khi được một số lượng nhất định thì mang đi bán. Hoặc là làm trực tiếp tại nhà các hộ buôn bán theo kiểu làm công ăn lương.

Người Phú Vinh cha truyền con nối làm nghề này, nhà nào cũng có người làm nghề mây tre đan, từ thanh niên trai tráng, phụ nữ đến người già, trẻ nhỏ. Trước đây, danh mục từ mây tre đan chủ yếu là đồ sử dụng phục vụ cuộc sống sinh hoạt mỗi ngày như thúng, mủng, dần, sàng, túi, hộp… Đến nay đã sáng tạo được hàng trăm mẫu hàng xuất khẩu như: đĩa mây, lẵng mây, làn mây, chậu mây, bát mây; danh mục mỹ nghệ như: đồ trang trí, chao đèn, rèm cửa, tranh chân dung, phong cảnh, hoành phi, câu đối, bàn, ghế, sa lông; đồ nội thất khách sạn, cửa hàng bằng tre trúc.   

hiện nay trên địa bàn xã Phú Nghĩa đã hình thành 16 công ty, tổ hợp sản xuất và buôn bán các mặt hàng mây tre đan xuất khẩu, trong đó có 9 công ty buôn bán tập trung tại Khu công nghiệp Phú Nghĩa đã được quy hoạch, số còn lại là những Doanh nghiệp, tổ hợp sản xuất nhỏ nằm trong các hộ dân. Để đưa những tác phẩm mây tre đan nổi tiếng của Phú Vinh đến với người tiêu sử dụng trên khắp các châu lục, rất cần sự đóng góp vô cùng quan trọng của các Doanh nghiệp này.

Trong số các Doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu mây tre đan mạnh nhất của Phú Vinh, phải kể đến công ty TNHH Đoàn Kết 1. Được hình thành và phát triển trong cái nôi làng nghề của xã Phú Vinh, huyện Chương Mỳ, từ mô hình ban đầu là hộ sản xuất gia đình, tô sản xuât cá thể, qua từng bước phát triển, đến nay, công ty TNHH XNK Đoàn Keết 1 đã trở thành một trong những Doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu mây tre đan, thủ công mỹ nghệ, với 3 cơ sở sản xuất có tổng diện tích gần 20.000 m2 nhà xưởng, thu hút gần 200 lao động nhiều trực tiếp tại các cơ sở của Doanh nghiệp và hàng trăm lao động thời vụ tại các cơ sở vệ tinh, các hộ gia đình, góp phần cải thiện hơn thu nhập, xóa đói, Giảm nghèo cho bà con ở các khu vực nông nghiệp, nông thôn. mức lương bình quân của CBCNV trong Doanh nghiệp là 1,8 triệu đồng/người/tháng. sản phẩm của cho các Doanh nghiệp mây tre đan tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, ngân hàng, hỗ trợ công ty phát triển thị trường, xúc tiến thương mại tại các thị trường trọng điểm; hỗ trợ tài chính, thiết bị, các thông tin liên quan đến thị trường, danh mục mây tre, thủ công mỹ nghệ trên thế giới, tạo sức mạnh liên kết giữa: Nhà nước – Nhà công ty – Nhà Nông, để đưa vị thế xuất khẩu mây, tre đan Việt Nam lên một tầm cao mới, góp phần gìn giữ tôn vinh những tổng giá trị truyền thống của làng nghề, tạo việc làm cho phần lớn những người nông dân làm nông nghiệp ở nông thôn. Đó cũng là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta đang quan tâm giải quyết vấn đề Tam nông.

Với hơn 400 hộ làm nghề năm 2002, Phú Vinh được công nhận là làng nghề truyền thống mây tre đan. Xóm Thượng, xóm Hạ, Đầm Bung, Gò Đậu là điểm đến, cùng lúc ấy cũng là nơi dừng chân cho mỗi ai có ý định du lịch làng nghề hay yêu thích đồ mây, tre, giang đan.

Vào thời vua Thành Thái, làng nghề truyền thống Phú Vinh có 09 cụ nghệ nhân đã được nhà vua phong sắc. Thời nào cũng vậy, lớp nghệ nhân cao tuổi, tài hoa, yêu nghề, bám trụ với nghề, đã truyền nghề lại cho con cháu họ, đưa thương hiệu nghề đan mây Phú Vinh phát triển lên tầm cao mới. Câu lạc bộ Nghệ nhân Phú Vinh được thành lập năm 2007, tập hợp được 19 nghệ nhân và thợ giỏi tham gia, trong đó, người cao niên nhất 85 tuổi và trẻ nhất là 25 tuổi. Câu lạc bộ này với mục đích chính là tập hợp những nghệ nhân, thợ giỏi đoàn kết sát cánh, cùng phát huy những tài năng nghệ thuật của mình để giữ gìn, bảo vệ nghề truyền thống, sáng tạo ra nhiều mẫu mã đẹp, thường xuyên tác phẩm mới, đáp ứng nhu cầu thị trường thế giới trong hội nhập Hiện tại.

Đã là thợ làng nghề Phú Vinh, không ai là không biết đến tên tuổi của cố nghệ nhân Nguyễn Văn Khiếu (1905 – 1983). Cụ là người làng Phú Vinh, có đôi bàn tay khéo léo đến lạ kỳ. Cụ là nghệ nhân thành công đầu tiên đan ảnh chân dung Bác Hồ bằng chất liệu dây mây truyền thống. Khi còn sống, cụ Khiếu vẫn từng nói: “Nghề đan mây – một nghề cho ra nghề quả là khó nên chỉ được gọi là thành công khi làm được ra những danh mục mỹ nghệ có hồn. Khi ta đang cầm sợi mây đan, ta chợt thấy chim vồ cánh bay, càng ngắm càng thấy chim bay cao dần. Tết hoa cũng vậy, làm sao để người ngắm mà thấy hoa nở tươi hơn, duyên dáng hơn”.

dùng sợi mây, nan tre, để làm được việc đã khó, nhưng còn khó hơn nhiều khi dùng nó để mô tả phong cách, dáng điệu một chân dung con người. Nếu như các hoạ sỹ vẽ tranh được sử dụng tới 7 màu cơ bản để thể hiện tác phẩm, thì với nghệ nhân đan mây, chỉ có thể sử dụng 2 màu đen, trắng. Màu đen là màu của cật giang được nhuộm từ nước quả bàng, còn màu trắng là màu trắng ngà tự nhiên của dây mây. Với 2 màu ấy, nghệ nhân phải thống kê, tính toán, đan làm sao cho toát lên cái hồn của tác phẩm. Tả phong cảnh có thể chấp nhận, nếu có sai sót kỹ thuật, còn tả chân dung một con người phải làm sao vừa đẹp vừa giống, là điều cực khó. Nếu đẹp mà không giống thì cũng bỏ đi, nếu giống mà lại không đẹp thì cũng vô ích.

Cố nghệ nhân Nguyễn Văn Khiếu là người thành công trong nghề đan mây tả phong cảnh và tả chân dung người, đến đời con trai là nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh, đã rất thành công trong lĩnh vực nội thất mây tre đan. Ông Tĩnh vẫn đang tiếp nối nghề truyền thống cha ông, hàng ngày lưu giữ những tinh nghệ, trải nghiệm tỷ mỷ của cha mình như một báu vật. Con trai ông Tĩnh là Nguyễn Văn Quang 22 tuổi, nhập ngũ năm 2004, đến đầu năm 2007, Quang rời quân ngũ về nối nghiệp cha ông. Tác phẩm đầu tay của anh Quang là một cái lọ lục bình cao 4,1m, được sách kỷ lục Việt Nam công nhận trong Hội hoa 2009, đã hoàn thành, trên mặt thành lục bình ấy được tả 4 điểm nhấn gồm Chùa Một Cột, Khuê Văn Các, Tháp Rùa và Rồng thời Lý đang bay lên. Đây là công trình do Quang thiết kế, anh trai Quang là Nguyễn Văn Bình làm cốt rồi cả nhà khởi công đan từ ngày 10/10/2007. Với gia đình nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh, công trình này mang tổng giá trị tinh thần lớn lao không thể quy đổi thành tiền. Đây là tác phẩm đầu tay của cháu nội cố nghệ nhân Khiếu, dành dâng tặng Đại lễ ngàn năm Thăng Long – Hà Nội.

Tiếp nối lớp nghệ nhân lão làng, anh Hoàng Văn Hạnh và chị Nguyễn Thị Hân là những người đầu tiên có sáng kiến kết hợp tinh hoa của hai làng nghề gốm Bát Tràng và mây tre đan Phú Vinh, tạo ra một loại danh mục mỹ nghệ mới – gốm sứ quấn mây. Ý tưởng kết hợp sợi mây, sợi giang với gốm sứ đã được anh Hạnh ấp ủ từ mấy chục năm này. Đó là những năm 90 của thế kỷ trước, khi nghề mây tre đan ở Phú Vinh bị “tắc” đầu ra, người dân đổ xô đi làm hàng chợ như rổ, rá… để kiếm sống. Xót xa và trăn trở với việc giữ nghề, anh Hạnh đã vào Đồng Nai, TP. HCM tìm kiếm thị trường. Tại đây, anh đã nảy ra ý định kết hợp cói với sứ Bình Dương và được khách nước ngoài rất thích, đặc biệt là du khách Pháp. Sau 4 năm bươn chải nơi đất khách, anh trở ra Bắc và tìm thấy ở gốm Bát Tràng có thường xuyên tông màu rất họp với màu trắng ngà và màu sẫm của mây Phú Vinh, tạo nên những mảng sáng tối cho danh mục.

Phát hiện của anh đã được bàn tay khéo léo của người vợ chắp thêm cánh với những kiểu dáng độc đáo. danh mục mây quấn gốm của anh chị em gồm gần 60 kiểu dáng khác nhau, nổi bật bởi tính độc đáo, đã giành được nhiều huy chương vàng trong các kỳ hội chợ.

Sau hoà bình lập lại, theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, các nghệ nhân Phú Vinh đã không quản ngại phân tán nghề, ra đi truyền nghề cho nhiều địa phương trong và ngoài Tỉnh. Ví như cụ Trần Văn Rắn đi truyền nghề ở Hà Nam, cụ Ngô Văn Phàn và Trần Thị Chuyện đi truyền nghề cho tỉnh Thái Bình và thường xuyên cụ khác đi truyền cho thường xuyên địa phương các tỉnh bạn. Tính đến nay, các lớp nghệ nhân ở làng nghề Phú Vinh đã nhân cấy nghề cho tất cả 12 tỉnh, thành phố trên cả nước, học và duy trì nghề mây, tre đan. hiện nay, thường xuyên thế hệ nghệ nhân như: Nguyễn Văn Khiếu, Nguyễn Văn Kinh, Nguyễn Văn Kiệu, Hoàng Văn Khu… tuy họ đã ra đi, nhưng sự nối tiếng với đôi bàn tay vàng được ghi nhận qua những tác phẩm đạt giải quốc tế vẫn còn lưu danh tên tuổi các cụ.

nói đến truyền nghề ra nước ngoài, phải nhắc tới nghệ nhân Nguyễn Văn Trung. Năm 1980 ông được tặng giải “Tuổi trẻ sáng tạo” tại Liên Xô và làm giảng viên mây tre tại trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội. Với tài năng của mình, năm 1983 ông được Ủy Ban khoa học Nhà nước và Bộ Đại học cử sang nước Cộng hòa Cu Ba làm chuyên gia giúp nước bạn giảng dạy về làm hàng thủ công mỹ nghệ. Trong 4 năm nhận nhiệm vụ (1982 – 1987), ông Trung đã xây dựng và đào tạo được một xưởng nghề cho nước bạn, giải quyết việc làm cho 300 làm công nhân. Năm 1987 trước khi trở về nước ông làm tặng nhân dân Cu – Ba bức chân dung vị lãnh tụ Phi-đen Ca-xtơ-rô bằng chất liệu mây.

Năm 2007 ông thành lập Trung Tâm Dạy Nghề Tư Thục Mây Tre Đan Phú Vinh được UBND Thành phố phê chuẩn. Trung tâm đào tạo được 4.300 lao động ở Hà Nội và các tỉnh khác như: Hòa Bình, Phú Thọ, Vĩnh  Phúc, Tuyên Quang, Hà Giang, Nam Định, Quảng Nam, Quảng Ngãi. Bản thân ông cũng đã đào tạo cho 600 lao động ở các địa bàn khác nhau của khác tỉnh thành. Trong đó có 320 lao động là hội viên hội nông dân như: xã Nam Phương Tiến, Tân Tiến, Phú Nghĩa, Đông Phương Yên, Quảng Bị, Hoàng Diệu. Sau khi học xong 65% học viên làm việc tại Doanh nghiệp và có thu nhập ổn định. Ngoài công việc của Doanh nghiệp ông dành thời gian và tâm huyết đào tạo đội ngũ thợ trẻ kế cận. Ông còn nhiều tổ chức dạy nghề và tạo công ăn việc làm cho người khuyết tật. Đặc biệt mở 22 lớp dạy nghề miễn phí cho hơn 600 người khuyết (1 lớp nghề với chi phí khoảng 50 triệu 1 lớp). Một mặt đào tạo và dạy nghề cho những người khuyết tật mặt khác thu mua hàng của những người khuyết tật không lấy lãi.

Với tài năng và những đóng góp của mình ông được nhận rất nhiều bằng khen, giấy khen, các chứng chỉ quốc gia, quốc tế. Ông vinh dự được Hiệp hội làng nghề Việt Nam phong tặng “nghệ nhân làng nghề năm 2005”, UBND Tỉnh Hà Tây phong tặng “nghệ nhân Hà Tây năm 2006”, UBND TP Hà Nội phong tặng “Nghệ nhân dân gian 2009”. Ông cũng được thường xuyên lãnh đạo cao cấp của Nhà nước đến thăm và động viên. Năm 2015 ông được UBND TP Hà Nội tặng bằng khen là điển hình tiên tiến trong phong trào thi đua yêu nước ngành Công Thương. Sự cống hiến và lòng yêu nghề của ông thực sự là một tấm gương sáng để thế hệ ngày nay noi theo.

1. Cụm di tích đình – quán Phú Vinh

tương đương các làng nghề khác, người dân Phú Vinh có các thiết chế tín ngưỡng tôn giáo để thờ tự các vị thần thánh đã âm phù trợ giúp cho dân làng được khang thịnh. Đến thăm làng nghề, du khách có khả năng ghé thăm những di tích như đình, quán Phú Vinh.

Căn cứ vào các tư liệu Hán Nôm xuất hiện trong di tích và truyền thuyết lưu truyền trong dân thôn thì đình – quán Phú Vinh thờ tứ vị Thượng đẳng thần là: Vương mẫu Vũ Thị Phương, An Định đại vương, Cương Nghị đại vương và Diên Phúc đại vương. Sự tích về các thần có thể tóm tắt như sau:

Thời Hậu Lê, ở thôn Hương Nhân có một người họ Nguyễn tên Luân, vợ là Trịnh Thị Tuyên là người hiền lành nhân hậu, luôn làm điều tốt với mọi người nhưng hai người lấy nhau đã lâu mà vẫn chưa có con nối dõi. Một đêm, bà Trịnh Thị Tuyên nằm mơ thấy một vầng hào quang đỏ vây quanh nhà và thấy có ba ngôi sao giao nhau, mây lành kéo đến rồi bà thấy trước mặt có ba đóa sen trắng toả hương thơm ngát, bà liền ngắt lấy, đột nhiên hoa kết thành quả. Ngày 10/11 nảy sinh một cái bọc trong đó có 3 viên ngọc trắng, sau xuất hiện 3 người con trai có diện mạo phi thường. Nguyễn Trác Luân làm lễ tạ ơn trời đất và các thần linh rồi làm lễ đặt tên cho người con thứ nhất là Nguyễn Diên Phúc, người con thứ hai là Nguyễn An Định và người con thứ ba là Nguyễn Cương Nghị.

Ba anh em lớn lên ngày ngày chăm học văn, rèn võ, trở thành những người văn võ toàn tài. Vào thời Lê cảnh Hưng, có tên phản tặc Vũ Đình Dụng dấy binh làm phản ở vùng Lạng Sơn, triều đình rất lo sợ. Nhà vua cho mời quần thần đến bàn bạc, có người tâu rằng nhà họ Nguyễn có ba anh em sinh cùng một ngày, có tài đức hơn người có khả năng phá được giặc dữ. Nhà vua bèn sai sứ giả đến nhà mời ba anh em ra giúp nước.

Ba anh em ra trận, chém chết Vũ Đình Dụng, quân phiến loạn mất tướng như rắn mất đầu không phá mà tan. Ba anh em thắng trận trở về, nhà vua vui mừng mở tiệc chiếu đãi quân sĩ, thưởng công phong chức cho ba anh em là Quận công và giữ lại kinh thành để phò vua giúp nước.

Tháng ngày thấm thoắt, bỗng đến ngày 09/6, ba ông nằm mơ thấy một người mặc áo xanh, cầm cờ vàng tự xưng là Thiên sứ quỳ ở trước sân nói rằng: Thượng đế có sắc chỉ triệu ba người về trời. Sau đó đến giờ Tuất ngày 10/6, ba ông không bệnh tật mà tự hoá. Nhà vua vô cùng thương tiếc đã cùng với các quan trong triều lo việc an táng rất hậu, lại sai bộ Lễ soạn sắc phong thần cho ba ông làm Thượng đẳng phúc thần.

Thái phi Vũ Thị Phương có mẹ bà là Lê Thị Quỳnh, một đêm nằm mộng gặp long xà, sau nảy sinh thái phi vào ngày 17/7. Lúc nảy sinh bà có diện mạo vô cùng diễm lệ, dung nhan hoa nhường nguyệt thẹn, mắt nhìn như ánh thu ba, vầng trán thông minh toả sáng như ánh sao băng. Khi được tuyển vào kinh thành, bà thường đi ra thành ngoại thăm hỏi cư dân. Một lần ngự giá đến vùng Phú Hoa Trang, thấy đây là vùng địa linh có thể làm nơi lập đền thờ cúng, bà bèn phát kim ngân, tiền bạc ban phẩm tước cho phụ lão trong trang và cho 8.000 quan tiền để mua ruộng cho dân cày cấy.

Ngày 10/3 Thái phi thấy trong người mệt mỏi, rồi ngày 11/3 không bệnh bỗng nhiên mà hoá. Hoàng đế biết tin cử bộ Lễ viết sắc phong thần, ban cho Phú Hoa Trang được dựng miếu đền phụng thờ Tam vị đại vương và Thái phi, ngàn năm hương hoả không bao giờ dứt. Miếu đường tôn nghiêm, quốc đảo dân cầu tất thảy đều đặn linh ứng, truyền mãi đến nay.

Đình Phú Vinh được xây dựng trên một thế đất cao ráo, thoáng đãng nhìn về hướng Bắc – Tây Bắc, gần đường liên xã. Nguyên xưa đây là một ngôi đình cổ tương đối lớn trong vùng, được dựng theo kiểu của đình Đình Bảng (Bắc Ninh) ngày nay với thường xuyên hạng mục công trình: Đại bái, Trung cung, Hậu cung, nhà tả văn, tả hữu mạc, nghi môn… Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, một phần ngôi đình đã bị xuống cấp, không có điều kiện tu sửa, các hạng mục khác được sử dụng vào các công việc phục vụ cho kháng chiến nên đến nay cũng không còn. Dấu tích còn lại của ngôi đình cổ đến ngày nay là toà nhà Tả văn (nay là toà Đại bái), một chân đá tảng có đường kính 80cm chạm viền cánh 14 sen tròn với tâm cánh sen là một dải mây cụm hình khánh và một lượng không ít các viên ngói mũi, loại bản rộng, mũi dày có nổi hình hoa cúc. Thông thường chân đá tảng của các ngôi đình làng hiếm khi có chạm khắc, cho nên qua chân đá tảng còn lại ở đình Phú Vinh ta có thể đoán định, ngôi đình trước kia đã được làm rất công phu.

Đình Phú Vinh ngày nay được bố cục theo kiểu chữ đinh gồm toà Đại bái và Hậu cung là hiện điện của lần trùng tu gần dây trên cơ sở ngôi nhà tả văn của đình cũ.

Nhìn bên ngoài, Đại bái đình Phú Vinh được làm kiểu tường xây, hồi bít đốc, tay ngai với hai mái chảy lợp ngói ri cổ. Vào bên trong, lòng nhà Đại bái được chia làm ba gian hai dĩ không đều đặn nhau, trong đó gian giữa rộng 3m được lát nền trũng hơn các gian bên tạo kiểu sàn lòng thuyền như các ngôi đình cổ thời Lê.

Hậu cung gồm 3 gian nhà dọc được nối liền từ gian giữa Đại bái vào. Đây là công trình mới được tôn tạo nên làm theo kiểu lòng nhà cuốn vòm, phía ngoài lợp ngói ri có đắp bờ nóc và bờ chảy. Trong cung có xây bệ thờ bằng gạch trát vữa tạo gờ chỉ, trên đó đặt một vài đồ thờ tự như: mâm ấu, giá đài, bát hương, hòm sắc và ba cỗ long ngai bài vị thờ tam vị thượng đẳng thần. Bài vị ở giữa ghi: Hộ quốc bảo cảnh thi huệ An Định đại vương, bài vị bên phải ghi: Thông minh chính trực dũng quyết Cương Nghị đại vương và bài vị bên trái ghi: Hiển uy linh ứng chiêu tín Diên Phúc đại vương. Đây là những cỗ long ngai bài vị được làm vào thời Nguyễn với các đường chạm khắc tỉ mỉ, được sơn son thếp vàng rực rỡ.

Quán Phú Vinh: Từ đường liên xã đi qua lối rẽ vào đình làng ta sẽ gặp ngôi quán, ngay bên trái đường xây dựng nhìn theo hướng Tây – Tây Nam. Thẳng theo lối đi chính từ cổng nhỏ làm đơn giản vào, qua một khoảng sân rộng có cây gạo cổ thụ ta sẽ gặp Đại bái quán Phú Vinh.

Nhìn bên ngoài, Đại bái quán Phú Vinh được làm kiểu tường xây, hồi bít đốc, tay ngai với hai mái chảy. Vào bên trong, Đại bái được chia làm ba gian hai dĩ nhỏ. Tương ứng với các gian là bốn bộ vì đỡ mái được làm theo hai kiểu thức khác nhau chút ít trên mặt bằng 5 hàng chân cột. Hai bộ vì gian giữa làm kiểu: “thượng giá chiêng, hạ kẻ chuyền, tiền kẻ, hậu bẩy” còn hai bộ vì gian hồi được làm kiểu “thượng chồng rường con nhị, hạ rường cụt, tiền kẻ, hậu bẩy”.

Toà Hậu cung quán Phú Vinh gồm ba gian với 3 lối đi vào trong cung, phía trên lối đi chính có treo bức hoành phi gỗ đề 3 chữ Hán “Trạc quyết linh” (Linh thiêng vời vợi). Trong cung, từ gian thứ hai vào có làm sàn gỗ lửng, sàn gian giữa để một vài đồ thờ tự như bát hương, giá đài, cây nến… Gian trong cùng làm khám gỗ bưng kín ba phía bằng ván mỏng, mặt trước khám mở cửa bức bàn 4 cánh, sườn bên tả có mở hai cánh nhỏ đặt cầu thang lên xuống. Trong khám đặt tượng thờ đức Vua bà trên cỗ long ngai và một vài đồ thờ tự khác.

Trang trí trên kiến trúc gỗ quán Phú Vinh được làm đơn giản mà thanh thoát. Thân các xà, kẻ chủ yếu bào soi vỏ măng. Các kẻ, bẩy chạm lá lật, các con rường chạm vân xoắn và mây cụm cách điệu, các con vật linh được chạm cách điệu kiểu hoa lá. Những mảng chạm được bố trí xen kẽ nhau với lối chạm nổi theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn đã tạo ra sự sinh động và hấp dẫn cho kiến trúc quán Phú Vinh.

2. Lễ hội truyền thống làng Phú Vinh

Hàng năm cứ vào dịp trung tuần tháng 7 âm lịch, làng Phú Vinh lại mở hội. Đây là lễ hội khá lớn của cư dân vùng này. Để chuẩn bị cho mở hội đám, từ tháng 6 làng đã họp định đám với thành phần là tộc biểu các họ và các cụ từ 60 tuổi trở lên, cũng có năm Lý trưởng mở rộng thành phần họp cho mời tất cả giai đinh trong làng cùng tham dự. Nếu sau khi họp toàn dân thống nhất “ăn đám” thì bắt đầu bầu ra các ban bệ chuẩn bị cho lễ hội, ban tế và hành văn, tế chủ. Những người được bầu ra phải tự học thuộc vai được phân công, sau lễ nếu ai mắc lỗi do không thuộc quy tắc sẽ bị làng phạt. Cùng đó các thành viên trong ban trống, ban nhạc tế chuẩn bị luyện tập và cử người đi mời phường hát ở Sơn Tây về để góp vui cho hội. Riêng các phiên tuần phải lo việc giữ gìn an ninh trật tự cho làng nên họ thường đan một số rọ tre để nhốt những người có hành vi không đứng đắn, không tôn trọng nhau trong lễ hội.

Bắt đầu từ 01/7 dân làng sửa soạn san đường, may quần áo mới cho con cháu đi dự hội và thông báo tới dâu, rể, gái làng đi làm xa quê về làm lễ giải. Cổng chào bằng lá dừa được dựng ở các lối đi chính vào làng, dọc theo các lối đi đó còn được chôn các cây bông, cây nêu, cây đèn, cây pháo. Riêng cổng vào đình được tết hình tượng “lưỡng long chầu nguyệt” bằng rơm trên đó đề: “Tiền cổ Phú Hoa Trang, hậu cải Phú Vinh” (thời tiền cổ là Phú Hoa Trang, sau cải làm Phú Vinh) ở cả hai mặt trong và ngoài. Tất cả các công việc này đến ngày 10 hoặc 12/7 phải hoàn tất.

Ngày 16/7 làng làm lễ “mộc dục”, bắt đầu từ đình sang quán. Nước làm lễ là nước mưa làng cho phiên tuần xin phép của gia đình nào trong làng có bể nước to gánh về đổ vào chum từ trước, đậy kín lại đến hôm làng làm lễ. Nước mưa được đun với vàng tra cho thơm, để nguội rồi ban hành văn, tế chủ làm lễ bằng số khăn do các gia đình hiếm muộn con cái trong làng cung tiến, số khăn này sẽ được các gia đình đó làm lễ xin phép về lấy lộc cho con cháu. Sau lễ mộc dục, phong mã cho các đức Thánh thì ban hành văn, tế chủ, đông xướng và hàng đô tiếp tục làm lễ phụng nghinh đức vua bà từ quán về đình dự hội. Tượng vương mẫu được rước vào trong cung và làm lễ yên vị. Từ ngày này, ở quán chỉ thắp hương thờ số quân hầu của vương mẫu, còn lại ở đình làm lễ tế nhập tịch, đến 12 giờ đêm tế yết bằng cỗ chay.

Làng Phú Vinh có hai làng anh cả kết nghĩa Yên Nội (Quốc Oai) và Phương Khê (Chương Mỹ), năm nào mở đám Phú Vinh sẽ mời anh cả đến trước một ngày và ngủ lại một đêm. Từ sáng 17/7 làng đem hai kiệu bát cống do các trai thanh gái lịch chưa có gia đình mặc quần trắng áo nâu, đội khăn đỏ, thắt lưng bỏ múi bên hữu với con gái và bỏ múi bên tả với con trai khênh kiệu đi đón các anh cả. Trên kiệu có bày phù hương, hoa quả thật đẹp. Đi cùng đoàn rước có tàn, lọng, cờ quạt, bát bửu, đội nhạc, đội múa rồng và tất cả các cụ ông, cụ bà trong làng đi đón anh cả. Thường cứ gặp kiệu anh cả ở đâu thì đón ở đấy. Khi đến đình, ba làng sẽ phân công nhau các chức vụ chủ tế, hành văn và đông xướng, thôn chủ trì làm nhân viên tế. Hương án tế được bày ở sân đình, sau đó dẫn lễ vào thượng cung. Buổi tế kéo dài trong khoảng 2h30’ thì xong. Lễ vật dùng trong buổi tế trưa ngày 17/7 do 24 giáp trong làng chuẩn bị gồm: 24 mâm xôi và 24 tựa tế (vùng ngực của con lợn). Tế xong làng thu cỗ để biếu các cụ lý dịch tân và cựu cùng các cụ cao tuổi trong thôn. mặt khác mỗi giáp phải làm một cỗ “giai lan” cho làng để tiếp đãi khách và rể, gái làng về lễ giải. Riêng khách anh cả, 24 giáp trong làng cử ra 48 chạ để phục vụ tiếp khách. Khi thụ lộc cứ mỗi mâm là 4 người thì phải có 2 là khách anh cả và 2 người khác đúng vai, đúng tuổi của làng cùng tiếp. Trong bữa ăn, mọi nghi thức tiếp khách diễn ra trang trọng, lịch sự và hai bên đều tôn trọng lẫn nhéu nên chưa bao giờ xảy ra sai sót. Sau khi đón tiếp khách đầy đủ, Phú Vinh lại mang kiệu rước để tiễn hai anh cả về.

Trong các ngày lễ hội, làng có 7 xóm thì mỗi xóm làm lễ chèo hát một ngày. mặt khác làng còn tổ chức các trò chơi và diễn xướng dân gian như: đánh gậy, đánh cờ người, đập niêu, leo cầu đốt pháo, bịt mắt bắt dê, bắt vịt ao đình, mút mật, đua thuyền… Trò mút mật thường có hai người chơi một lần, mỗi người đứng một đầu của cái bàn (cách nhéu khoảng lm), người chơi bị bịt mắt, cầm một cây gậy tre dài lm, đầu gậy dính một bánh dày có chấm mật. Người chơi phải cố gắng đút được bánh dầy vào miệng của người kia, nếu đút trúng mồm sẽ được giải nhất, người ăn được giải nhì. mặc khác ít khi có người giật giải mà thường thì người chơi bị dính bánh và mật khắp người gây nên những tiếng cười sảng khoái cho đám đông dân chúng.

Hội làng Phú Vinh đặc sắc nhất vẫn là trò đua thuyền. Trước kia, làng Phú Vinh nằm trong vùng đồng trũng (đồng Thập cửu – đồng của 19 xã) nên năm nào mở hội đám đều đặn có thi đua thuyền để dân trong vùng tham gia. Thể lệ và giải thưởng gồm tiền, khăn đỏ, cơi trầu cho thuyền nhất chung cuộc được Lý trưởng cho niêm yết từ trước ở đình làng.

Thuyền bơi được đan bằng tre dài khoảng 21 thước ta (8m20 – 8m30), sơn màu đen, thuyền nào có quai và chèo đấy, riêng dầm bơi do làng chuẩn bị 2 bộ sơn màu đỏ gác sẵn ở đình. Mỗi thuyền có 16 quân bơi, 1 người cầm lái, 1 người cầm trống khẩu và 2 người đáp ứng. Quân bơi mặc áo có thắt lưng bó que màu đỏ. Mỗi đợt bơi chỉ có hai thuyền thi với nhéu, ngoài ra sẽ có thường xuyên thuyền dự phòng. Hết số đôi thi chọn sơ khảo rồi chung khảo (nhất đấu nhất, nhì đấu nhì). Đích phải đến cách nhéu từ 400 – 500m, các thuyền phải bơi từ hai bên theo hình chữ u, thuyền bên tả đi ngược chiều kim đồng hồ ở vòng ngoài, thuyền bên hữu đi xuôi chiều kim đồng hồ ở vòng trong. Giữa chặng bơi có cắm hai cây nêu con, các thuyền bơi phải lượn ra ngoài cây nêu mới đúng quy định.

Trước khi bắt đầu thi, ở đình làng có đặt một bàn lễ, phía trước bàn lễ đặt hai bộ quai chèo, hai khẩu trầu và hai chèo lái theo thứ tự từ phải sang trái. Sau lễ trình múa dầm, người cầm lái hai thuyền đua đầu tiền phải làm lễ bốn lạy, sau đó thật nhénh chân chạy cướp lấy khẩu trầu để nhéi, tiếp theo là cướp chèo và cướp quai chèo, rồi vừa chạy thật nhénh ra thuyền vừa xỏ chèo vào quai, người nào chạy ra đến thuyền đua của mình trước thì được xuất phát trước. Khi thuyền đua về tới đích, người cầm lái phái tiếp tục vác chèo chạy thật nhanh về gác lên đình, ai về đình trước coi như thắng cuộc.

Cuộc đua thuyền cứ thế diễn ra cho đến khi có thuyền thắng chung cuộc. tuy nhiên năm nào đông nhất cũng chỉ diễn ra đến ngày thứ ba nếu không đân chúng sẽ quá mệt không thể xem tiếp được.

Ngoài lễ hội làng vào dịp tháng 7 âm lịch thì trong một năm, ở đình – quán Phú Vinh còn có lễ tế kỷ niệm ngày sinh và ngày hoá tam vị thượng đẳng vào 10/6 và 09 – 10/11; ngày 10/3 kỷ niệm đức Vua Bà cùng lúc ấy là ngày tế kỳ phước cầu an khang thịnh vượng cho toàn dân. ngoài ra còn có lễ cơm xôi mới, lễ thần nông (xuống đồng), lễ Giao thừa đón năm mới, lễ hạ nêu… Các ngày sóc, vọng, tuần tiết khác cũng có làm lễ ở đình – quán làng.

Tương truyền, đức vua bà thờ ở quán Phú Vinh là nơi rất linh thiêng nên trong dân nếu ai có mất gì cứ đến quán kêu cầu là sẽ tìm lại được. Quán còn là nơi người ta đưa nhéu đến thề nguyện mong thần chứng giám, hay là nơi phân định phải trái, ngay gian. Đặc biệt, nếu năm nào hạn hán quá lâu, làng sẽ tổ chức rước bát hương ở quán Phú Vinh lên Quán San (quán hàng tổng) để cầu đảo vũ. Đàn tế đặt ở đâu thì quan viên sở tại phải chuẩn bị, Tri huyện sẽ trực tiếp đứng ra làm lễ, nha lại trong phủ huyện viết văn tế. Làm lễ xong, chủ tế bưng một bát nước đi vẩy khắp bốn hướng như những hạt mưa để nhắc nhở trời đất hãy thực hiện nhiệm vụ – hãy theo sự gợi ý của nhân gian mà gọi mây mưa về cho mọi miền no ấm. Cũng có một lần, sau nghi thức cầu đảo vũ trên mà không mưa thì nhân dân cả tổng phải rước tượng đức Vua Bà rời khỏi Hậu cung quán Phú Vinh lên để cầu mưa. Nghi thức rước tượng thánh như thế ta đã gặp trong lễ cầu mưa chùa Bối Khê (Thanh Oai). Trong tâm thức dân gian, chỉ với một nội dung cầu mưa, nguồn hạnh phúc nông nghiệp của cư dân lúa nước, văn hoá cổ truyền Việt đã thể hiện ở các nghi lễ đa dạng và đa dạng, mang nhiều nét đẹp bất ngờ. Giải mã được các nghi lễ cổ Iruyền vừa loại bỏ hủ tục, vừa giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc là điều mà chúng ta luôn phải nghĩ tới.



Các câu hỏi về làng nghề làm mây tre đan ở đâu


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê làng nghề làm mây tre đan ở đâu hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé