Lý luận - Phê bình
Âm nhạc cổ truyền trong đời sống hôm nay
[11:04 05/01/2004 (GMT+7)]
Âm nhạc cổ truyền trong đời sống hôm nay "

Dân tộc ta có nhạc từ rất sớm, nhạc đã tham gia tích cực vào toàn bộ đời sống sinh hoạt xã hội của người Việt. Nếu chỉ lấy bộ đàn đá Ndut Lieng Krak được tìm thấy đầu tiên ở VN năm 1949 có 5 âm trên 7 thanh đá, hoặc nếu chỉ lấy chiếc trống đồng Ngọc Lũ với khá đầy đủ những hình thức sinh hoạt âm nhạc từ nhạc cụ đến cảnh hát đối đáp nam nữ, cảnh gõ nhịp đua thuyền khắc trên mặt trống và tang trống thì cũng đã có quá đủ cứ liệu để chứng minh dân tộc ta đã có một nền văn hoá âm nhạc từ rất sớm.

Nền văn hoá âm nhạc ấy đã phát triển liên tục trong suốt chiều dài lịch sử có lúc thăng, lúc trầm, có lúc thịnh, lúc suy. Song từ chính cái thăng - trầm, thịnh - suy ấy, cha ông chúng ta đã tạo dựng được một nền âm nhạc truyền thống có nhạc ngữ riêng, có bản sắc riêng, phong phú về hình thức, đa dạng về thể loại.

Về luật nhạc có Dương luật, Âm lữ. Về nhạc ở triều đình có hai hình thức lớn là Nhã nhạc và Tụng nhạc. Nhã có nghĩ là chính đính; Tụng có nghĩa là khen ngợi, ca tụng công đức của các vua đời trước, hát ở nơi tông miếu. Về cấu trúc âm nhạc có Tiểu thành và Đại thành. Tiểu thành là những khúc nhạc nhỏ, Đại thành là tập hợp nhiều khúc nhạc nhỏ thành khúc nhạc lớn. Về tổ chức dàn nhạc lấy Bát âm làm trọng. Bát âm gồm Kim (tiếng chuông), Thạch (tiếng khánh), Thổ (tiếng huyên), Cách (tiếng trống), Ti (tiếng đàn), Mộc (tiếng chúc ngữ), Bào (tiếng sênh), Trúc (tiếng sáo). Khi chế nhạc phải cảm nhận quan hệ của các âm như Kim ứng với Thạch, Ti ứng với Trúc, Trúc ứng với Bào, Bào ứng với Thổ... Về kỹ thuật chơi đàn cũng đã được ông cha ta ghi chép rõ rệt: "Việc búng, nhấn, bật dây khi đánh đàn cầm; việc vuốt, nắn, móc dây khi đánh đàn sắt; việc thổi ống tiêu, huyên, trì song quản cùng việc đánh chúc ngữ, đánh chuông, đánh trống đều đã có phương pháp và nhạc phổ".

Giai đoạn cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX đã để lại cho chúng ta vốn di sản âm nhạc vô cùng phong phú. Vốn di sản âm nhạc còn lại là sự kết tinh âm nhạc của tất cả các triều đại trước đó. Bao gồm đầy đủ các họ, chi nhạc cụ từ họ nhạc cụ tự thân vang, họ nhạc cụ màng rung, họ nhạc cụ dây rung và họ nhạc cụ hơi; bao gồm đầy đủ các hình thức dàn nhạc khác nhau như: dàn nhạc biên chung, dàn nhạc biên khánh; dàn nhạc gõ; dàn đại nhạc, dàn tiểu nhạc, dàn quân nhạc... Cùng với nhạc cụ và dàn nhạc là rất nhiều hình thức âm nhạc và thể loại âm nhạc khác nhau từ nhạc không lời, nhạc có lời, nhạc cho múa và sân khấu. Tất cả các hình thức âm nhạc này đều được qui định hết sức chặt chẽ về tổ chức dàn nhạc, cách thức diễn tấu, chương trình bài bản và đặc biệt là không gian biểu diễn.

Cuốn "Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ" ghi rất rõ: "Phàm buổi lễ thường triều, tấu các thứ nhạc nhỏ, buổi lễ đại triều, nhạc lớn nhạc nhỏ cùng tấu. Đồ nhạc treo đặt ở phía nam bệ rồng, đồ nhạc lớn đặt ở phía nam thềm rồng, đều đặt thành hai bên Đông Tây đối xứng với nhau. Bọn ca sinh, nhạc sinh chiểu theo thứ tự bày hàng, đều chiểu từng tiết, tấu nhạc đúng như nghi thức". Một chương trình bài bản được trình tấu trong những ngày long trọng của triều đình, sách cũng ghi rõ:

- Khi Hoàng thái hậu lên bảo toạ, tấu các bài Bảo thành, Bình thành, Doãn thành, Vũ gia thành. Lễ xong tấu bài Khánh thành.

- Vua lên bảo toạ, tấu các bài: Nguyên thọ, Trình thọ, Vĩnh thọ, Gia thọ, Hy thọ, Hiển thọ, Tuy thọ.

- Khi yến tiệc tại điện Cần chánh, tấu các bài: Cảnh phúc, Hoằng phúc, Thuần phúc, Sùng phúc, Diễn phúc.

Xem thế cũng đủ biết chúng ta đã có quốc nhạc từ rất lâu.

 

Về sau này, khoảng thời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) trở đi, một hình thức âm nhạc thưởng thức đã ra đời: đó là hình thức ca nhạc thính phòng Huế. Dĩ nhiên là các triều đại trước đó, những hình thức âm nhạc thưởng thức cũng đã có nhưng không ai còn nhớ, không sách nào ghi chép được giai điệu của nó. Hình thức âm nhạc thính phòng Huế là sự hoà nhập giữa hai dòng nhạc Việt (từ Bắc vào) và Chiêm (bản địa) mà hình thành. Dòng nhạc ra đời đã góp một ý nghĩa quan trọng làm phong phú hình thức âm nhạc Việt Nam và khẳng định bản sắc của nhạc ngữ VN. Thế là cùng với các hình thức âm nhạc thưởng thức đã có sẵn ở miền Bắc như xẩm, hát ả đào, các điệu ngâm vịnh, hát chèo, nền âm nhạc cổ truyền của chúng ta đã có thêm các điệu Nam ai, Nam bình, Nam xuân, Nam thương, Qủa phụ, Phú lục, Cổ bản và hàng chục các điệu "lý" có nhạc tính rất cao. Cũng chính những sáng tạo âm nhạc có giá trị ấy đã tác động mạnh mẽ tới nhiều hoạt động sáng tạo âm nhạc cổ truyền của cả nước. Nhiều bản hát chèo, hát văn, hát tuồng, hát quan họ ở miền Bắc có hơi Nam, hơi Xuân của Huế, nhiều điệu hò, điệu vè miền Trung có pha hơi Nam, hơi Ai của miền Nam. Nhưng đặc biệt nhờ vào sáng tạo âm nhạc thính phòng Huế đã làm nảy sinh nhiều hình thức âm nhạc truyền thống phương Nam như ca đàn tài tử, sân khấu cải lương - những hình thức âm nhạc mang tính chuyên nghiệp rất cao. Và có lẽ phải đến giai đoạn khoảng 1700-1900 trở về sau, cha ông ta mới tìm ra được và phân biệt được một cách tương đối rõ rệt về tính cơ bản trong cấu trúc âm nhạc VN như những vấn đề cung, điệu, giọng, hơi, nhịp, phách, cùng những kỹ thuật sử dụng các ngón bấm như vỗ, mổ, rung, nhấn, nhấn rung, cung sóc, cung liền, cung vuốt, cung nhấn, cung luyến... để thể hiện tính chất âm nhạc trong từng loại bản đàn, bài hát khác nhau. Đây cũng chính là những kết quả sáng tạo lớn để hình thành nền nhạc cổ VN có tính mẫu mực.

Song song với những hình thức âm nhạc có tính kinh điển này, chúng ta còn có một nền âm nhạc dân gian vô cùng phong phú của 54 dân tộc. Đây là nền âm nhạc gắn liền với cuộc sống lao động, đời sống tâm linh, sinh hoạt cộng đồng. Có thể nói đó là một di sản khổng lồ, một minh chứng hùng hồn cho diễn trình lịch sử sáng tạo âm nhạc cổ truyền VN.

Làm thế nào để bảo tồn được vốn di sản quý báu mà cha ông để lại và đặc biệt làm thế nào để phát huy vốn di sản ấy trong đời sống âm nhạc hiện nay, đó là vấn đề bức thiết. Đánh giá lại những kết quả thu được, chúng ta vẫn còn nhiều băn khoăn, trăn trở.

Điều băn khoăn đầu tiên là con cháu chúng ta đang xa dần, dị ứng với nghệ thuật và âm nhạc cổ truyền. Trong lúc đó, thì các chương trình giáo dục âm nhạc cổ truyền lại bất cập.

Điều băn khoăn thứ hai là việc giảng dạy và biểu diễn âm nhạc cổ truyền hiện nay trong các trường dạy nhạc không còn bảo tồn được truyền thống nữa mà đã theo lối mới hoàn toàn. Thậm chí người ta còn đang "hiện đại hoá" nghệ thuật và âm nhạc cung đình. Nhiều người đã phải kêu lên: "Một dàn nhạc đông hơn hai chục người - kết quả của việc tổ bộ hoá theo dàn nhạc giao hưởng. Trong đó, đàn nguyệt bass, trống dân tộc cải biên theo lối nhạc nhẹ, tỳ bà gắn phím bình quân... Âm nhạc cung đình gì mà lại như vậy!  (bài hội thảo quốc tế về Âm nhạc cung đình Huế của Yến Thanh). Còn Giáo sư Tô Ngọc Thanh khi tổng kết hội thảo về Nhã nhạc cung đình đã nói: "Nếu chúng ta không thể chấp nhận việc bê tông hoá, đánh bóng mạ kền, tân kỳ hoá Hoàng thành Huế thì tại sao lại chấp nhận việc cải biên, cải tiến nghệ thuật cung đình Huế".

Thực trạng trong nhiều năm qua, công tác giáo dục văn hoá truyền thống, giáo dục âm nhạc truyền thống của chúng ta trong cộng đồng là rất yếu kém và thiếu đồng bộ; công tác bảo tồn nghệ thuật truyền thống trong đào tạo làm không tốt, không có trường đào tạo nghệ thuật nào, không có đoàn nghệ thuật ca múa nhạc nào của nhà nước có kế hoạch đào tạo bảo tồn, có chương trình nghệ thuật bảo tồn mà hầu hết là đào tạo phát triển và hiện đại hoá cổ truyền, các chương trình biểu diễn, sáng tác tác phẩm dựa trên cổ truyền, phát triển cổ truyền, các nhà hát "nguỵ cổ truyền" chứ không diễn theo cổ truyền mà diễn cách tân. (Chúng tôi không phản đối mà thậm chí hết sức ủng hộ những sáng tạo nghệ thuật truyền thống đương đại, nhưng không thể coi đấy là cổ truyền được). Để góp phần xây dựng nền văn hoá VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, ngành nhạc chúng ta còn quá nhiều công việc phải làm ngay. Song có một việc nếu không được làm ngay, làm triệt để, làm toàn diện đó là Bảo tồn và phát huy vốn di sản âm nhạc cổ truyền trong đời sống hôm nay thì đến một ngày không xa, chúng ta sẽ đánh mất dần, làm mai một dần rồi mất hẳn một phần ký ức dân tộc, bản sắc dân tộc trong âm nhạc. Sự mất mát ấy cũng không thua kém gì sự mất đi tiếng nói và chữ viết - đó là sự mất mát văn hoá.

  • Nhạc sĩ Đặng Hoành Loan - Phó viện trưởng Viện Âm nhạc
Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX