Nhạc cổ điển
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam – Nhà soạn nhạc giao hưởng tài năng
[07:23 29/08/2003 (GMT+7)]
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam – Nhà soạn nhạc giao hưởng tài năng "
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam

“Anh đã nắm bắt được những bí mật của âm nhạc giao hưởng đồng thời thấm sâu nhuần nhuyễn âm nhạc dân tộc Việt Nam và đã thành công trong việc kết hợp nghệ thuật giao hưởng phương Tây với âm nhạc truyền thống phương Đông”.

Quê hương và tuổi thơ

Quê hương Tiền Giang với những đồng lúa bát ngát thẳng cánh cò bay, những bờ kênh soi bóng dừa, là một trong những cái nôi của âm nhạc tài tử Nam bộ. Tiền Giang còn là nơi đã sản sinh ra những nhân tài đất nước như : Gs.Ts. Trần Văn Khê, Gs.Ts. Quang Hải, nhạc sĩ Hoàng Việt, nhà thơ Bảo Định Giang, nhà văn Đoàn Giỏi... Tiền Giang còn có những địa danh như: “Rạch Gầm - Xoài Mút”, nơi Quang Trung Nguyễn Huệ đánh tan 5 vạn quân Xiêm; “Ấp Bắc” nổi tiếng thời chống Mỹ.

Trên vùng đất “địa linh nhân kiệt” đó, nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam chào đời ngày 14/7/1936 tại xã Vĩnh Kim, huyện Châu Thành. Tuổi ấu thơ của ông là những chiều tà thẫn thờ trước những chuyến đò xuôi ngược với những điệu hò mênh mang của vùng sông nước; là những buổi hoàng hôn lang thang trong vườn cây trĩu quả, say sưa nghe tiếng gáy của những chú dế như những bản hợp tấu của thiên nhiên; là những lần ngủ quên bên chiếu đờn ca tài tử trong tiếng đờn ca mùi mẫn của các bạn đờn người lớn; là những âm điệu ngọt ngào, êm dịu, tha thiết của những bài hát ru của mẹ. Những kỷ niệm ấu thơ đó cũng là chất liệu âm nhạc luôn phảng phất trong tất cả các tác phẩm của ông.

Tiểu sử và những tác phẩm tiêu biểu

Năm 11 tuổi (1947) ông thoát ly vào đoàn văn công Đời Sống Mới tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang).
Năm 1948, ông theo học trường Văn hóa Kháng chiến Phan Lương Trực ở căn cứ kháng chiến Đồng Tháp Mười.
Năm 1949, ông vào tổ quân nhạc Khu 8 và sau đó là Đoàn văn công Mặt trận Đồng Tháp Mười.
Những năm đầu tham gia kháng chiến ở Nam bộ ông được tuyên dương công trạng và được tặng thưởng “Huy hiệu Thành đồng Tổ quốc” của Ủy ban Kháng chiến Nam bộ.
Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, ở sư đoàn 338.

Năm 1959, ông thi vào trung cấp sáng tác trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội). Đây là năm đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời, ông đã bước hẳn vào con đường âm nhạc chuyên nghiệp.

Trong những năm tháng công tác và học tập ở miền Bắc, ông thường xuyên tham dự các buổi tọa đàm và các buổi biểu diễn âm nhạc dân tộc. Ông cũng đã đi điền dã dân ca nhiều nơi nên đã thấm sâu dân ca của nhiều miền đất nước như hát dặm Nghệ Tĩnh, hát ả đào, ca trù, chầu văn, dân ca Tày, Nùng, Thái, Mèo... Cho đến thời điểm này, âm nhạc dân gian của cả ba miền Bắc, Trung, Nam đã thấm sâu vào tâm hồn ông và đó là hành trang quí giá để ông bước vào con đường sáng tạo nghệ thuật.

Từ những tác phẩm đầu tiên, ông đã bộc lộ năng khiếu của mình trong lĩnh vực khí nhạc. Năm trung cấp thứ ba, ông viết tác phẩm “Biển đêm” cho violoncello và piano, tạo được tiếng vang đầu tiên, cho đến rất nhiều năm về sau, đài FM vẫn còn sử dụng tác phẩm này.

Năm 1964, khi đang học năm thứ nhất bậc đại học ở Hà Nội, ông viết độc tấu piano “Rủ nhau đi gánh lúa vàng”, lúc mới ra đời đã được phổ cập và tồn tại cho tới ngày nay. Cả hai tác phẩm này đều mang đậm âm hưởng dân ca.

Năm 1966, khi đang học đại học năm thứ ba, ông được cử đi du học ở Nhạc viện Leningrad trong thời gian 5 năm. Sang Leningrad, ông xin được học lại từ chương trình dự bị đại học. Cuối năm thứ nhất và thứ hai đại học, ông đều có tác phẩm được chọn biểu diễn trong Festival Âm nhạc của thành phố Leningrad.

Năm đại học thứ ba, ông viết tổ khúc giao hưởng “Bài ca chim D'rao” dựa theo bài thơ cùng tên của nhà thơ Thu Bồn. Tác phẩm được biểu diễn và có tiếng vang tại Leningrad, một tờ báo lớn tại Leningrad đăng bài ca ngợi với tựa đề “Tiếng chim D'rao bên dòng sông Nheva”. Đây cũng là điều hiếm có đối với các sinh viên đang học tại Nhạc viện Leningrad.

Cuối năm đại học thứ tư, ông viết bản Giao hưởng N°1 mang đậm chất liệu âm nhạc dân gian Việt Nam, đặc biệt là dân ca Nam bộ. Cũng chính tác phẩm này mà ban giám đốc Nhạc viện Leningrad đã xét đặc cách cho ông được học chương trình nghiên cứu sinh (thay vì phải học hết năm thứ năm của chương trình đại học). Song vì những lý do khách quan ông không tận dụng được sự đặc cách đó. Ông tốt nghiệp bằng đỏ và là một trong bốn người được báo chí Leningrad đưa tin khen ngợi.

Năm 1973, ông trở về nước và năm 1974, ông tiếp tục sang Nhạc viện Leningrad để hoàn thành chương trình nghiên cứu sinh cùng một lúc hai bộ môn Sáng tác và Lý luận âm nhạc.

Trong thời gian nghiên cứu sinh, năm 1975 ông viết bản Giao hưởng N°3 (Concerto Symphonie) để tặng các nạn nhân chiến tranh là các em bé mồ côi Việt Nam và thế giới.

Bản giao hưởng này gồm 4 chương. Chủ đề chính lấy âm điệu từ tiếng rao bán chè đậu xanh của một em bé Nam bộ và đây cũng là nét nhạc xuyên suốt toàn bộ tác phẩm. Chương IV là âm hưởng của hát ru Nam bộ, những bài hát ru mà thuở nhỏ ông thường được nghe mẹ hát.

Tác phẩm này được dàn nhạc giao hưởng Leningrad biểu diễn lần đầu tiên vào tháng 4/1976 trong Đại hội Âm nhạc Mùa xuân Leningrad lần thứ 12 dưới sự chỉ huy của nhạc sĩ Guergueev. Qua tác phẩm này, một hãng thông tấn âm nhạc chuyên nghiệp ở Leningrad đã có lời đánh giá về ông như sau : “Anh đã nắm bắt được những bí mật của âm nhạc giao hưởng đồng thời thấm sâu nhuần nhuyễn âm nhạc dân tộc Việt Nam và đã thành công trong việc kết hợp nghệ thuật giao hưởng phương Tây với âm nhạc truyền thống phương Đông”. Buổi biểu diễn thành công rực rỡ và cũng từ đó, ông đã tạo dựng cho mình một vị trí trong làng nhạc giao hưởng Leningrad. Cũng tác phẩm này năm 1979 được biên đạo múa Nguyệt Nga dựng thành ballet “Việt Nam của tôi” do đoàn ballet cổ điển Matxcơva diễn tại điện Kremli và năm 1995 được Nguyễn Công Nhạc dựng thành ballet “Huyền thoại mẹ”.

Cuối năm 1990, ông về thăm quê hương và đầu năm 1991, ông chính thức về giảng dạy tại Nhạc viện Tp.HCM.

Năm 1995, ông viết bản Giao hưởng N°5. Đây là tác phẩm nói lên những xúc động chân thành, sâu sắc, mãnh liệt của tác giả đối với quê hương, đất nước sau một thời gian dài xa cách. Đặc biệt Giao hưởng N°5 này, vào năm 1995 được dàn nhạc Giao hưởng - Thính phòng Tp.HCM biểu diễn lần đầu tiên tại Mỹ Tho, quê hương của tác giả.

Năm 1998, ông viết bản Giao hưởng N°6 trong dịp kỷ niệm 300 năm thành phố Sài Gòn.

Tác phẩm gồm 4 chương. Nội dung tác phẩm là sự hồi tưởng quá khứ hào hùng của cha ông ta trong quá trình mở cõi phương Nam và sự nhớ ơn những bậc tiền bối cùng những thế hệ cha anh đã dày công khai phá, xây dựng và anh dũng chiến đấu, hy sinh để giữ vững mảnh đất thân yêu cho đến ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, thành phố được vinh dự mang tên bác Hồ kính yêu.

Đầu năm 2000, ông viết Giao hưởng N°7 với tiêu đề là “Chuyện nàng Kiều” dựa theo nội dung tác phẩm “Truyện Kiều” của thi hào Nguyễn Du, thông qua câu chuyện của nàng Kiều, một “hồng nhan” tài sắc vẹn toàn nhưng số phận nghiệt ngã để nói lên cuộc đấu tranh giữa cái “Thiện” và cái “Ác”, cuối cùng cái “Thiện” đã chiến thắng như để khẳng định sự vĩnh hằng của chính nghĩa.

Tác phẩm gồm 6 chương. Vào đầu chương I, tác giả đã thể hiện sự điêu luyện của mình trong nghệ thuật phối khí. Với nét nhạc ca trù do violoncello chơi pizzicato, nhấn nhá đặc biệt, mô phỏng theo âm sắc đàn đáy và sau đó là sự phối hợp hài hòa chuyển tiếp từ pizzicato của dây sang đàn tì bà.

Chủ đề chính xuất hiện dựa trên hai nốt Si, Fa được xây dựng và phát triển thành nét giai điệu có lời ca nói về nàng Kiều trên nền trì tục của bộ dây.

Chương VI, phần final dùng 2 câu thơ của Nguyễn Du theo lối nói thơ Lục Vân Tiên thay cho lời kết :

“Thiện căn ở tại lòng ta.
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Tháng 4/2001, ông được tổ chức ArtSynergy của Đại học Chicago Columbia College mời sang thăm Hoa Kỳ nhân dịp biểu diễn các tác phẩm của ông.

Năm 2003, ông hoàn thành bản Giao hưởng số 8.

Đời tư và cuộc sống hiện nay

Thành phố Leningrad, một trong những thành phố cổ kính và là một trong những trung tâm văn hóa của châu Âu - nước Nga với những mùa đông tuyết trắng, những cánh đồng lúa mì mênh mông trải dài đến tận chân trời và những bài dân ca nổi tiếng. Chính tại nơi đây có một người con gái Nga xinh đẹp - bà Tamara Blaeva, con của một đại tá bác sĩ Hồng quân - đã yêu và chờ đợi ông trong suốt 7 năm trời. Vì một tình yêu thủy chung, son sắt mà ông đã kết hôn với bà để rồi phải đón nhận không ít những đắng cay của cuộc sống thực tại. Bà là người bạn đồng nghiệp đã giúp ông rất nhiều trong học tập công tác, là người bạn đời tri kỷ đã chia sẻ cùng ông những vui buồn và đã sát cánh cùng ông vượt qua những gian lao của cuộc đời. Rất tiếc bà đã qua đời sớm vì một chứng bệnh nan y, để lại cho ông một cô con gái nhỏ.

Hiện nay, ông là giảng viên bộ môn Sáng tác và Lý luận âm nhạc bậc đại học và cao học của Nhạc viện Tp.HCM. Ông cũng thường xuyên tham gia Hội đồng nghệ thuật âm nhạc Quốc gia. Giữa thành phố Sài Gòn hoa lệ, ông vẫn đi về trên chiếc xe đạp cọc cạch, ngày hai buổi vẫn phải leo bộ lên tận tầng 8 của một chúng cư. Trong căn hộ tập thể khiêm tốn, ông sống một mình với cuộc sống giản dị.

Trong căn phòng vừa là phòng khách vừa là phòng ăn, phòng làm việc, một bộ salon nho nhỏ do học sinh tặng, một chiếc bàn con trên đó một số vật dụng của người nội trợ được xếp đặt khá gọn gàng. Án ngữ giữa phòng là chiếc đàn piano, tuy khá cũ nhưng đó là người bạn thân thiết của ông, đã khuya sớm cùng ông, giúp ông thổ lộ những tâm tư tình cảm của mình qua những trang tổng phổ...

 

Hữu Trịnh

Viết phản hồi
Họ tên
(*)
Email
(*)
Tiêu đề
Điện thoại
Nội dung
Mã số an toàn
Nếu không thấy mã số hãy nhấn vào Cấp lại mã số để lấy mã mới

AlbumCD Thư viện ảnh Lời ca khúc Nhạc Online Diễn đàn GDX